Siết ngưỡng trong giao dịch tài sản mã hóa
Dự thảo sửa đổi quy định về phòng, chống rửa tiền đề xuất áp dụng ngưỡng 1.000 USD đối với một số giao dịch tài sản mã hóa không thường xuyên, đồng thời giữ mốc 6 tháng không giao dịch để xác định nghĩa vụ nhận biết khách hàng và làm rõ phạm vi áp dụng.
Ngưỡng 1.000 USD và mốc 6 tháng
Một trong những nội dung đáng chú ý tại dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2023/NĐ-CP về phòng, chống rửa tiền là quy định ngưỡng nhận biết khách hàng đối với một số giao dịch tài sản mã hóa không thường xuyên.
Theo đề xuất, trường hợp khách hàng chưa có tài khoản, ví dùng để giao dịch tài sản mã hóa hoặc đã có nhưng không phát sinh giao dịch trong 6 tháng liên tục trước đó, sau đó thực hiện một hoặc nhiều giao dịch có tổng giá trị quy đổi tương đương từ 1.000 USD trở lên trong một ngày sẽ thuộc diện phải thực hiện nhận biết khách hàng.
Đây là ngưỡng xác định nghĩa vụ nhận biết khách hàng trong trường hợp cụ thể, không phải ngưỡng cấm giao dịch hay ngưỡng báo cáo áp dụng chung cho mọi giao dịch tài sản mã hóa.
Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), đề xuất được xây dựng trên cơ sở Khuyến nghị 15 của Lực lượng đặc nhiệm tài chính (FATF), yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ tài sản ảo thực hiện nhận biết khách hàng đối với giao dịch không thường xuyên có giá trị từ 1.000 USD/EUR trở lên. Tuy nhiên, khuyến nghị này không quy định cụ thể khoảng thời gian để xác định giao dịch không thường xuyên.
Dự thảo lựa chọn mốc 6 tháng nhằm bảo đảm thống nhất với cách xác định giao dịch không thường xuyên tại Nghị định số 19/2023/NĐ-CP. Ngưỡng 1.000 USD cũng được thiết kế phù hợp với mức quy định tại điểm b khoản 2 Điều 15 Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP về triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam.
Trong quá trình góp ý, một số tổ chức đề nghị kéo dài thời gian không giao dịch từ 6 tháng lên 12 tháng. First Commercial Bank – Chi nhánh Hà Nội cho rằng tài khoản có thể chỉ được sử dụng để nhận lợi nhuận phân chia hằng năm từ doanh nghiệp được thành lập hợp pháp tại Việt Nam, nên khoảng thời gian 12 tháng có thể phù hợp hơn với đặc điểm sử dụng tài khoản trong trường hợp này.
Tuy nhiên, NHNN cho rằng tài khoản không hoạt động và giao dịch không thường xuyên là hai khái niệm có mục đích, phạm vi áp dụng khác nhau. Chu kỳ phân chia lợi nhuận hằng năm chỉ là đặc thù của một số sản phẩm, giao dịch, chưa đủ cơ sở để xác định chung thời gian không giao dịch trong lĩnh vực tài sản mã hóa. Vì vậy, dự thảo tiếp tục giữ mốc 6 tháng.
Làm rõ phạm vi áp dụng, tránh chồng lấn nghĩa vụ
Bên cạnh ngưỡng giao dịch và thời gian không hoạt động, phạm vi áp dụng quy định cũng là vấn đề được các tổ chức báo cáo quan tâm.
BIDV và Vietcombank đề nghị làm rõ quy định tại điểm đ chỉ áp dụng đối với tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa. Theo các ngân hàng, nếu không xác định rõ đối tượng, quy định có thể bị hiểu là yêu cầu cả tổ chức tín dụng áp dụng thêm ngưỡng 1.000 USD đối với giao dịch liên quan đến tài sản mã hóa, dẫn đến chồng lấn với nghĩa vụ nhận biết khách hàng đối với giao dịch nộp, rút hoặc chuyển tiền có tổng giá trị từ 400 triệu đồng trong một ngày theo điểm b cùng khoản.
NHNN cho biết quy định tại điểm đ được thiết kế riêng cho tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa, phù hợp với đặc thù giao dịch thông qua tài khoản, ví tài sản mã hóa, có tốc độ nhanh và mang tính xuyên biên giới. Phạm vi áp dụng được xác định theo đối tượng điều chỉnh của quy định, gắn với giao dịch và tài khoản, ví dùng để giao dịch loại tài sản này.
Về khái niệm tài khoản và ví tài sản mã hóa, NHNN cho rằng đây là các khái niệm chuyên ngành đã được đề cập trong khuôn khổ pháp luật về tài sản mã hóa, trong đó có Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP. Do đó, không cần thiết phải định nghĩa lại trong văn bản hướng dẫn Luật Phòng, chống rửa tiền.
Một vấn đề khác là trách nhiệm của ngân hàng và doanh nghiệp bảo hiểm khi phát hiện dòng tiền liên quan đến ví tài sản mã hóa qua hệ thống ngân hàng. Công ty CP Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp đề nghị hướng dẫn phương thức, công cụ phát hiện và xác minh các luồng tiền này, do thông tin về chủ sở hữu ví không phải lúc nào cũng hiển thị rõ trên giao dịch chuyển khoản.
Theo NHNN, việc nhận biết, xác minh khách hàng và thông tin liên quan đến ví, giao dịch tài sản mã hóa thuộc trách nhiệm của tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa theo quy định pháp luật có liên quan. Trong khi đó, ngân hàng và doanh nghiệp bảo hiểm vẫn thực hiện nhận biết, giám sát khách hàng và phát hiện giao dịch đáng ngờ theo các quy định phòng, chống rửa tiền tương ứng với hoạt động của mình. Vì vậy, dự thảo không bổ sung yêu cầu riêng về phương thức, công cụ kỹ thuật để các tổ chức báo cáo xác minh chủ ví tài sản mã hóa.
Đối với đề nghị của Công ty CP Sàn giao dịch Tài sản mã hóa Việt Nam Thịnh Vượng (CAEX) về việc làm rõ nghĩa vụ nhận biết khách hàng đã hoàn thành quy trình KYC, NHNN cho biết quy định tại điểm đ nhằm xác định trường hợp phát sinh nghĩa vụ và ngưỡng áp dụng riêng đối với nhà cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa. Việc tiếp tục xác minh, cập nhật thông tin khách hàng vẫn thực hiện theo các quy định chung của pháp luật về phòng, chống rửa tiền.
Việc làm rõ ngưỡng giao dịch, thời gian không giao dịch và đối tượng áp dụng được kỳ vọng giúp các tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa xác định đúng nghĩa vụ tuân thủ, đồng thời hạn chế chồng lấn trách nhiệm với ngân hàng và doanh nghiệp bảo hiểm. Đây cũng là cơ sở để tăng cường kiểm soát rủi ro rửa tiền, bảo đảm việc nhận biết khách hàng được thực hiện thống nhất trong quá trình triển khai khuôn khổ thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam.

