Sử dụng nhạc livestream trên nền tảng số có phải xin cấp phép bản quyền không?

18:12, 31/05/2026

Nhiều cá nhân, doanh nghiệp cho rằng chỉ cần bài hát đã được công bố là có thể sử dụng trong livestream, video YouTube hoặc các hoạt động kinh doanh trực tuyến. Tuy nhiên, theo Luật SHTT, việc khai thác âm nhạc trên nền tảng số không phải lúc nào cũng giống nhau về nghĩa vụ xin phép và trả tiền bản quyền.

Việc sử dụng tác phẩm âm nhạc, cuộc biểu diễn hay bản ghi âm, ghi hình trên các nền tảng số đang trở thành hoạt động phổ biến trong kinh doanh trực tuyến. Tuy nhiên, đây cũng là lĩnh vực phát sinh nhiều tranh chấp do người sử dụng chưa hiểu rõ các loại quyền liên quan và phạm vi được phép khai thác.

Chia sẻ với báo chí về vấn đề này, luật sư Lê Quang Vinh, Giám đốc Công ty Sở hữu trí tuệ Bross và Cộng sự cho biết, một trong những ngộ nhận phổ biến hiện nay là cho rằng mọi trường hợp sử dụng tác phẩm âm nhạc đều phải xin phép chủ sở hữu quyền, hoặc ngược lại, cho rằng tác phẩm đã công bố thì bất kỳ ai cũng có thể tự do khai thác.

Theo luật sưLê Quang Vinh, Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành thiết lập ba nhóm trường hợp pháp lý khác nhau đối với việc sử dụng tác phẩm, cuộc biểu diễn và bản ghi âm, ghi hình.

711695859_2867403860318361_3627322007007755563_n

Thời gian gần đây, các nền tảng livestream đã có nhiều cơ chế mới giúp siết chặt vấn đề bản quyền. Ảnh: Internet 

Không phải mọi trường hợp đều được sử dụng tự do

Nhóm thứ nhất là các hành vi phải được sự đồng ý của chủ thể quyền và phải trả tiền bản quyền theo thỏa thuận.

Đây là nguyên tắc chung khi khai thác các quyền tài sản thuộc quyền tác giả hoặc quyền liên quan. Các hoạt động như làm tác phẩm phái sinh, sao chép tác phẩm, phân phối bản sao, truyền đạt tác phẩm đến công chúng qua môi trường mạng, sao chép bản ghi âm, ghi hình hoặc khai thác bản ghi trên nền tảng số đều có thể thuộc phạm vi quyền tài sản của chủ sở hữu.

Theo Luật sư Lê Quang Vinh, Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ quy định rõ chủ sở hữu quyền tác giả có các quyền tài sản như quyền sao chép, quyền phân phối, quyền phát sóng và quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng. Do đó, việc sử dụng tác phẩm trong livestream, video quảng cáo hoặc nội dung kiếm tiền trên nền tảng số cần được xem xét cụ thể đối với từng hành vi khai thác.

Có trường hợp không cần xin phép nhưng vẫn phải trả tiền bản quyền

Bên cạnh nguyên tắc xin phép trước, pháp luật cũng quy định một số trường hợp sử dụng không cần xin phép nhưng vẫn phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền bản quyền.

Theo luật sư Vinh, Điều 26 và Điều 33 Luật Sở hữu trí tuệ quy định một số trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố hoặc bản ghi âm, ghi hình đã công bố mà người sử dụng không phải xin phép chủ thể quyền trước khi khai thác.

Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc được sử dụng miễn phí.

“Đây là cơ chế giới hạn quyền có điều kiện. Người sử dụng chỉ được hưởng cơ chế không phải xin phép nếu việc sử dụng thuộc đúng trường hợp luật định, đáp ứng đầy đủ các điều kiện áp dụng và thực hiện nghĩa vụ trả tiền bản quyền theo quy định”, luật sư Vinh nhấn mạnh.

Trong một số trường hợp và điều kiện cụ thể do pháp luật quy định, tổ chức phát sóng hoặc tổ chức, cá nhân sử dụng bản ghi âm, ghi hình đã công bố nhằm mục đích thương mại có thể thuộc trường hợp không phải xin phép trước nhưng vẫn phải trả tiền bản quyền.

Luật sư Vinh lưu ý, đây không phải là cơ chế “dùng trước, trả sau” áp dụng cho mọi trường hợp. Nếu việc sử dụng không đáp ứng đầy đủ điều kiện luật định thì vẫn có thể bị xem xét là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

711474721_2867404636984950_2430769473298911476_n

 Tùy từng trường hợp, chủ kênh sẽ cần xin cấp phép bản quyền hoặc không khi sử dụng bài hát trên livestream. Ảnh: Internet

Khi nào việc sử dụng nhạc trên nền tảng số có thể bị xem là xâm phạm?

Theo phân tích của luật sư Lê Quang Vinh, hành vi có thể bị xem là xâm phạm khi không thuộc các trường hợp ngoại lệ hoặc giới hạn quyền theo luật định, không được sự cho phép cần thiết của chủ thể quyền hoặc không thực hiện nghĩa vụ trả tiền bản quyền trong trường hợp pháp luật yêu cầu.

Trong thực tiễn, nhiều tranh chấp phát sinh từ việc người sử dụng chỉ quan tâm đến một loại quyền mà bỏ qua các quyền khác có liên quan.

Để minh họa, luật sư Vinh đưa ra ví dụ giả định về bài hát A do nhạc sĩ M sáng tác. Công ty X sản xuất bản ghi âm A1 với ca sĩ S, trong khi Công ty Y sản xuất bản ghi âm A2 với ca sĩ T.

Mặc dù cùng thể hiện một tác phẩm âm nhạc nhưng A1 và A2 là hai bản ghi khác nhau về mặt pháp lý. Quyền đối với tác phẩm âm nhạc thuộc phạm vi quyền tác giả, trong khi quyền đối với từng bản ghi âm và cuộc biểu diễn lại thuộc quyền liên quan của nhà sản xuất bản ghi và người biểu diễn.

Vì vậy, việc được phép sử dụng bản ghi A1 không đồng nghĩa với việc được phép khai thác bản ghi A2. Tương tự, việc được cấp phép biểu diễn một ca khúc trên sân khấu không mặc nhiên cho phép ghi hình buổi biểu diễn rồi đăng tải lên YouTube để khai thác doanh thu quảng cáo.

Ngay cả khi đã thanh toán tiền sử dụng tác phẩm âm nhạc, tổ chức hoặc cá nhân cũng chưa chắc đã có đầy đủ quyền đối với bản ghi cụ thể, cuộc biểu diễn cụ thể hoặc quyền khai thác trên môi trường số.

Luật sư Vinh cũng lưu ý rằng không phải mọi hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đều dẫn đến trách nhiệm hình sự. Chỉ khi hành vi có lỗi cố ý, mang tính thương mại và đạt các ngưỡng xử lý theo quy định của Bộ luật Hình sự thì mới có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự.

Theo luật sư Vinh, để đánh giá tính hợp pháp của một hoạt động khai thác âm nhạc trên nền tảng số cần xem xét riêng từng lớp quyền và từng hành vi sử dụng. Không thể dựa vào một giấy phép, một khoản thanh toán hoặc một thông báo trên nền tảng để mặc nhiên kết luận toàn bộ quá trình khai thác đã hợp pháp.

Trong bối cảnh livestream, video ngắn và nội dung số ngày càng phát triển, việc nhận diện đúng đối tượng quyền và nghĩa vụ pháp lý tương ứng được xem là yếu tố quan trọng giúp người sử dụng tránh các rủi ro tranh chấp bản quyền cũng như các chế tài xử lý theo quy định của pháp luật.