GS. TS. Trần Thọ Đạt: Kinh nghiệm quốc tế cho thấy khó có một chỉ tiêu duy nhất mô tả đầy đủ kinh tế số
Những năm gần đây, kinh tế số đã thực sự nổi lên trong tổng thể của nền kinh tế Việt Nam. Để tìm hiểu vấn đề này, Tin học & Đời sống đã có cuộc trao đổi với GS. TS.Trần Thọ Đạt - nguyên Hiệu trưởng Đại học Kinh tế Quốc dân.

GS. TS.Trần Thọ Đạt - nguyên Hiệu trưởng Đại học Kinh tế Quốc dân.
PV: Xin ông cho biết vài nét về kinh tế số trong tổng thể nền kinh tế quốc gia và với riêng các doanh nghiệp.
GS. TS.Trần Thọ Đạt: Khi nói đến kinh tế số, nhiều người nghĩ ngay tới mua bán trên mạng, thanh toán điện tử hay các nền tảng trực tuyến. Đó là những biểu hiện dễ thấy, nhưng kinh tế số rộng hơn. Một bộ phận gồm các ngành trực tiếp sản xuất thiết bị điện tử, phần mềm, dịch vụ viễn thông và những sản phẩm, dịch vụ số. Bộ phận còn lại hình thành khi công nghệ và dữ liệu được sử dụng trong các ngành truyền thống: từ nhà máy, ngân hàng, doanh nghiệp vận tải đến cơ sở sản xuất nông nghiệp…
Vị trí của kinh tế số trong nền kinh tế quốc gia vì thế có hai mặt. Nó tạo ra một khu vực sản xuất và dịch vụ có giá trị riêng, đồng thời làm thay đổi cách những khu vực khác tạo ra giá trị. Một doanh nghiệp logistics dùng dữ liệu để ghép chuyến xe tốt hơn có thể giảm quãng đường chạy rỗng. Một nhà máy theo dõi máy móc và chất lượng sản phẩm theo thời gian thực có thể giảm phế phẩm. Những cải thiện như vậy, nếu diễn ra trên diện rộng, sẽ góp phần nâng năng suất của cả nền kinh tế.
Theo Cục Thống kê, năm 2025 giá trị tăng thêm của kinh tế số Việt Nam ước chiếm 14,02% GDP, tương đương khoảng 72,1 tỷ USD. Trong đó, kinh tế số lõi đóng góp 8,42 điểm % GDP. Phần số hóa của các ngành khác đóng góp 5,6 điểm %. Tỷ trọng của bộ phận thứ hai tăng cho thấy công nghệ số đang đi sâu hơn vào hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường.
Tuy nhiên, quy mô chưa nói hết chất lượng phát triển. Một địa phương có nhiều nhà máy điện tử có thể đạt tỷ trọng kinh tế số cao, nhưng cần xem doanh nghiệp trong nước tham gia được đến đâu vào thiết kế, phần mềm, linh kiện, bảo trì và nghiên cứu phát triển. Nếu phần lớn hoạt động là lắp ráp dựa vào linh kiện nhập khẩu, giá trị giữ lại trong nước sẽ thấp hơn nhiều so với ấn tượng mà quy mô sản xuất tạo ra.
Đối với doanh nghiệp, câu hỏi trực tiếp hơn là: công nghệ giúp mình kinh doanh tốt hơn ở khâu nào? Kinh tế số mở ra khả năng tiếp cận khách hàng ngoài thị trường quen thuộc, theo dõi nhu cầu nhanh hơn và quản lý hoạt động chính xác hơn. Nhưng công nghệ chỉ có ý nghĩa kinh tế khi làm giảm chi phí, tăng chất lượng, rút ngắn thời gian hoặc tạo ra sản phẩm mới mà khách hàng sẵn sàng trả tiền. Một doanh nghiệp mua nhiều phần mềm chưa chắc đã là doanh nghiệp chuyển đổi số thành công.
PV: Hiện nay, cách tính tỷ trọng kinh tế số trong nền kinh tế còn chưa nhất quán. Liệu có một công thức cụ thể và chính xác nhất không?
GS. TS.Trần Thọ Đạt: Có một công thức thống kê cơ bản: lấy giá trị tăng thêm do kinh tế số tạo ra chia cho GDP, rồi nhân 100%. Theo cách biên soạn của Cục Thống kê, giá trị tăng thêm đó gồm hai phần: giá trị của các ngành kinh tế số lõi và phần được xác định là số hóa trong những ngành kinh tế khác. Nếu tính cho một địa phương thì mẫu số là GRDP.
Điểm quan trọng là phải dùng giá trị tăng thêm, chứ không lấy doanh thu của mọi hoạt động có liên quan đến Internet cộng lại. Ví dụ, một chiếc áo bán qua sàn thương mại điện tử vẫn là sản phẩm của ngành may mặc. Việc đặt hàng trên mạng không biến toàn bộ giá bán chiếc áo thành giá trị của kinh tế số. Nền tảng, người bán lẻ và đơn vị vận chuyển có những phần giá trị riêng, nếu cộng nguyên doanh thu ở từng khâu sẽ làm số liệu bị tính trùng.
Khó hơn nữa là xác định phần đóng góp của số hóa trong một ngành truyền thống. Một nhà máy dùng phần mềm quản lý nguyên liệu, hệ thống điều khiển sản xuất và dữ liệu khách hàng có thể tạo ra giá trị tăng thêm cao hơn. Nhưng bao nhiêu trong đó là kết quả của công nghệ số, bao nhiêu đến từ lao động, vốn thiết bị hay thay đổi thị trường? Không có phép chia đơn giản nào trả lời chính xác tuyệt đối. Cơ quan thống kê phải dựa trên phân loại ngành, số liệu điều tra, chi phí đầu vào và một phương pháp ước tính nhất quán.
Vì vậy, tôi cho rằng cần phân biệt công thức tính với ranh giới của đối tượng được tính. Công thức có thể thống nhất, còn kết quả sẽ khác nhau nếu phạm vi kinh tế số khác nhau. Chỉ tính các ngành trực tiếp sản xuất sản phẩm và dịch vụ số sẽ cho một tỷ lệ hẹp. Tính thêm phần số hóa của thương mại, tài chính, công nghiệp và các ngành khác sẽ cho một tỷ lệ rộng hơn. Nếu nghiên cứu cả tác động lan tỏa qua chuỗi cung ứng, thu nhập và tiêu dùng, chúng ta lại đang trả lời câu hỏi về ảnh hưởng kinh tế của công nghệ số. Không nên gọi tất cả những kết quả ấy bằng cùng một tên rồi đem so sánh trực tiếp.
Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy khó có một chỉ tiêu duy nhất mô tả đầy đủ kinh tế số. OECD đề xuất xem xét đồng thời cách giao dịch diễn ra, loại sản phẩm được tạo ra và đặc điểm của đơn vị sản xuất. Cách tiếp cận này giúp nhận diện nhiều mặt của số hóa, trong khi vẫn giữ sự nhất quán với hệ thống tài khoản quốc gia.
Đối với Việt Nam, điều cần làm là công bố đều đặn, tách bạch kinh tế số lõi và phần số hóa của các ngành khác, kèm theo phạm vi ngành, nguồn số liệu và phương pháp ước tính. Khi phương pháp thay đổi, cần giải thích và, nếu có thể, tính lại chuỗi các năm trước để người sử dụng biết tỷ trọng tăng do hoạt động kinh tế phát triển hay do cách đo được điều chỉnh. Muốn đánh giá chất lượng phát triển, còn phải nhìn thêm năng suất, việc làm, khả năng làm chủ công nghệ và giá trị giữ lại trong nước. Một tỷ lệ phần trăm, dù được tính cẩn thận, không thể thay thế những thông tin đó.
PV: Riêng với các doanh nghiệp, ông cho rằng họ cần phải làm gì với kinh tế số cho chính mình?
GS. TS.Trần Thọ Đạt: Tôi nghĩ doanh nghiệp nên bắt đầu bằng việc xác định vấn đề kinh doanh, sau đó mới chọn công nghệ. Một doanh nghiệp chế biến có thể mất nhiều nguyên liệu do bảo quản kém, một nhà bán lẻ không biết chính xác hàng nào đang tồn kho ở từng điểm bán; một nhà sản xuất giao hàng chậm vì bộ phận bán hàng và xưởng không chia sẻ kế hoạch. Ba doanh nghiệp ấy đều cần chuyển đổi số, nhưng không cần cùng một giải pháp.
Bước tiếp theo là chuẩn hóa quy trình và dữ liệu. Nếu mỗi bộ phận dùng một mã sản phẩm, số liệu bán hàng không khớp với tồn kho, hoặc nhân viên vẫn phải nhập lại cùng một thông tin nhiều lần, một hệ thống mới khó phát huy hiệu quả. Doanh nghiệp có thể chọn một khâu quan trọng để làm trước, đo kết quả rồi mở rộng. Những thước đo hữu ích là thời gian xử lý đơn hàng, tỷ lệ sản phẩm lỗi, chi phí trên một đơn vị sản phẩm, vòng quay hàng tồn kho hoặc tỷ lệ khách hàng quay lại.
Quy mô doanh nghiệp cũng quyết định cách đi. Doanh nghiệp nhỏ và vừa thường phù hợp với giải pháp thuê dịch vụ, chi phí ban đầu vừa sức và có thể triển khai theo từng bước. Doanh nghiệp lớn cần giải quyết bài toán kết nối giữa các bộ phận và với nhà cung ứng. Một doanh nghiệp đầu chuỗi quản lý hoàn toàn bằng dữ liệu nhưng yêu cầu hàng trăm nhà cung ứng gửi chứng từ thủ công thì lợi ích chung vẫn bị hạn chế. Các chuẩn dữ liệu dùng chung và việc hỗ trợ nhà cung ứng tham gia vì thế có ý nghĩa lớn.
Cần đặc biệt chú ý đến con người. Người lao động phải hiểu dữ liệu mình nhập sẽ được dùng vào quyết định nào, người quản lý phải sẵn sàng thay đổi cách phân công và kiểm soát công việc. Nếu giữ nguyên quy trình cũ rồi chuyển biểu mẫu giấy lên màn hình, doanh nghiệp sẽ có thêm chi phí mà chưa chắc có thêm năng suất.
PV: Còn với các cơ quan nhà nước, theo ông điều cần làm là gì với kinh tế số trong phạm vi quản lý của họ?
GS. TS.Trần Thọ Đạt: Trước hết, cơ quan nhà nước cần làm tốt những việc mà từng doanh nghiệp không thể tự làm: phát triển hạ tầng kết nối, xây dựng dữ liệu công đáng tin cậy, tạo quy tắc giao dịch rõ ràng và cung cấp dịch vụ hành chính thuận tiện. Nếu một thủ tục đã có trên mạng nhưng doanh nghiệp vẫn phải khai đi khai lại thông tin hoặc nộp thêm hồ sơ giấy, lợi ích kinh tế của số hóa còn rất hạn chế. Nên đánh giá dịch vụ công trực tuyến bằng thời gian, chi phí thực tế tiết kiệm được cho người sử dụng.
Thứ hai, chính sách hỗ trợ cần đi vào những trở ngại cụ thể. Doanh nghiệp nhỏ thường thiếu người có khả năng lựa chọn giải pháp và tổ chức triển khai, một số ngành thiếu chuẩn dữ liệu chung. Nhiều dự án có lợi ích dài hạn nhưng doanh nghiệp khó thu xếp chi phí ban đầu. Nhà nước có thể hỗ trợ đào tạo, tư vấn, thí điểm hoặc tài chính theo dự án. Song việc hỗ trợ phải gắn với kết quả đo được, tránh chạy theo số lượng phần mềm được mua hay số lớp tập huấn được tổ chức.
Thứ ba, phải giữ môi trường cạnh tranh lành mạnh. Nền tảng số giúp người bán nhỏ tiếp cận thị trường rộng hơn, nhưng khi một nền tảng có vị thế quá lớn, người bán cũng có thể phụ thuộc vào điều kiện giao dịch và mức phí do nền tảng đặt ra. Cơ quan quản lý cần quan tâm đến tính minh bạch, khả năng kết nối và chuyển dữ liệu, bảo vệ người tiêu dùng, an toàn thông tin và thực hiện nghĩa vụ thuế. Quy định rõ ràng sẽ giúp doanh nghiệp biết giới hạn và yên tâm đầu tư.
Sau cùng, mỗi bộ, ngành và địa phương cần xây dựng chính sách từ cấu trúc kinh tế của mình. Nơi có nhiều nhà máy điện tử nên chú trọng khả năng tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng và các khâu có giá trị cao hơn. Nơi mạnh về nông nghiệp, du lịch hoặc dịch vụ có thể ưu tiên truy xuất nguồn gốc, logistics, dữ liệu thị trường và thanh toán. Không nên áp cùng một danh mục dự án cho mọi địa phương, cũng không nên đánh giá thành tích chỉ bằng tỷ trọng kinh tế số trong GRDP.
Con số 14,02% GDP của năm 2025 là một mốc quan trọng để theo dõi, nhưng mục tiêu chính sách sâu xa hơn là nâng năng suất và chất lượng tăng trưởng. Điều cần biết sau mỗi năm không chỉ là tỷ trọng ấy đã tăng bao nhiêu, mà còn là doanh nghiệp Việt Nam giữ lại được bao nhiêu giá trị, người lao động có thêm kỹ năng gì và nền kinh tế có sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn hay không.
PV: Xin cảm ơn ông!
Đức Hoàng thực hiện
Theo Tạp chí in số 5 tháng 10/2026
