Hóa giải thách thức đưa hàng Việt chinh phục “cửa ngõ” Thổ Nhĩ Kỳ

15:37, 22/07/2026

Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu có nhiều biến động, Thổ Nhĩ Kỳ nổi lên như một thị trường trọng điểm và là “cửa ngõ” giao thương huyết mạch nối liền ba châu lục Á - Âu - Phi. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành các đơn hàng thực tế, doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động nhận diện thách thức về rào cản kỹ thuật, quản trị rủi ro tài chính và chuẩn hóa tiêu chuẩn Halal...

Nông sản thô, thực phẩm chế biến và dược mỹ phẩm Việt Nam rất có tiềm năng tại thị trường Thổ Nhĩ Kỳ. Ảnh: Song Hà.

Phát biểu khai mạc hội thảo "Cơ hội và thách thức phát triển thị trường Thổ Nhĩ Kỳ" diễn ra ngày 21/7/2026, ông Tạ Mạnh Cường, Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ xúc tiến thương mại và Đầu tư (Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương) cho rằng trong bối cảnh thương mại toàn cầu đang có nhiều biến động, việc mở rộng thị trường xuất khẩu, đa dạng hóa đối tác và tận dụng hiệu quả các cơ hội từ các thị trường tiềm năng đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với doanh nghiệp Việt Nam.

THÁCH THỨC RÀO CẢN KỸ THUẬT VÀ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH

Theo ông Cường, Thổ Nhĩ Kỳ là nền kinh tế quy mô lớn, giữ vai trò cửa ngõ kết nối các khu vực và có nhu cầu nhập khẩu gia tăng đối với các mặt hàng thế mạnh của Việt Nam như nông sản, thực phẩm, chè, cà phê, gia vị, thủy sản. Minh chứng là trong 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch thương mại song phương đạt 1,39 tỷ USD; trong đó xuất khẩu của Việt Nam tăng trưởng ấn tượng 32% so với cùng kỳ năm trước.

Đáng chú ý, kim ngạch nhóm ngành thực phẩm và đồ uống của Việt Nam sang thị trường này trong 6 tháng đầu năm 2026 đã đạt 950 triệu USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước.

Dưới góc nhìn nghiên cứu kinh tế vĩ mô, PGS.TS Đinh Công Hoàng, Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và Châu Phi, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, đánh giá Thổ Nhĩ Kỳ là nền kinh tế nằm trong khối G20 với quy mô trên 1.000 tỷ USD và dân số khoảng 86,1 triệu người. Quốc gia này sở hữu lợi thế đặc biệt nhờ Hiệp ước Liên minh Thuế quan với EU giúp hàng hóa vào Thổ Nhĩ Kỳ có thể dễ dàng lưu thông tới các thị trường châu Âu mà không chịu thêm các rào cản thuế quan kép; hạ tầng logistics khổng lồ như eo biển Bosphorus hay sân bay Istanbul, cùng mạng lưới FTA rộng lớn với gần 40 quốc gia. Mỗi năm Thổ Nhĩ Kỳ nhập siêu trên 100 tỷ USD, tạo ra nhu cầu rất lớn về nguyên liệu bán thành phẩm phục vụ chế biến và tái xuất khẩu.

Dù dư địa phát triển rất lớn, song việc thâm nhập sâu vào Thổ Nhĩ Kỳ đặt ra không ít bài toán khó. Bà Nguyễn Việt Hằng, Tham tán thương mại, Trưởng cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Thổ Nhĩ Kỳ chỉ ra các thách thức lớn như: rào cản kiểm dịch thực vật, thủ tục hải quan ngặt nghèo; yêu cầu bắt buộc về chứng nhận Halal; biến động logistics, chi phí vận tải cao và rủi ro thanh toán kéo dài.

Đặc biệt, từ tháng 7/2026, Bộ Nông lâm nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ áp dụng quy trình kiểm tra 10 bước qua hệ thống điện tử GGBS đối với thực phẩm nhập khẩu, đòi hỏi quản lý rủi ro ngay trước khi hàng cập cảng. Bà Hằng lưu ý cơ quan quản lý sẽ lấy mẫu xét nghiệm ngẫu nhiên. Lô hàng không đạt sẽ bị tái xuất hoặc tiêu hủy. Phí thẩm định hồ sơ là 10.728 Lira/lô hàng.

Hội thảo

Hội thảo "Cơ hội và thách thức phát triển thị trường Thổ Nhĩ Kỳ" diễn ra ngày 21/7/2026. Ảnh: Song Hà.

Bên cạnh đó, áp lực lạm phát cao (CPI đạt 37,9%) khiến các doanh nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ áp dụng chiến lược "Shrinkflation - lạm phát thu nhỏ" (giữ giá, giảm khối lượng) và kéo dài thời gian công nợ. Chuỗi bán lẻ tại đây thu hồi công nợ từ 101–105 ngày, hay kênh khách sạn, nhà hàng từ 52,5–67,5 ngày. Doanh nghiệp phải bỏ vốn trước và chờ 2–3 tháng mới thu được tiền, gây ra "bẫy thanh khoản" nghiêm trọng cho nhà xuất khẩu.

Mặt khác, xu hướng tiêu dùng mới - người tiêu dùng Thổ Nhĩ Kỳ đang dịch chuyển sang logic "chi tiêu ít hơn nhưng thông minh hơn": Ưu tiên sản phẩm nội địa (thay vì hàng nhập khẩu cao cấp như trước); từ trung thành thương hiệu sang săn đón khuyến mãi và giá rẻ; ưu tiên sản phẩm tự nhiên, không phụ gia, bao bì bền vững; sử dụng thực phẩm chế biến sẵn, tiện lợi. Vì thế, hàng Việt khó cạnh tranh bằng uy tín thương hiệu cao cấp, cần cạnh tranh bằng giá trị sử dụng, giá cả cạnh tranh và tích hợp kênh B2B.

Phân tích ở góc độ dòng tiền, bà Vũ Thị Thùy Linh, CFA – Giám đốc Phát triển kinh doanh ngoại hối (Ngân hàng MSB) nhận định: "Việc chúng ta ký kết được một đơn hàng thành công mới chỉ là sự khởi đầu". Đồng thời bà hệ thống 5 nhóm rủi ro cốt lõi mà doanh nghiệp xuất khẩu phải đối mặt bao gồm: rủi ro đối tác, rủi ro thanh toán, rủi ro tỷ giá (đặc biệt khi đồng Lira biến động mạnh), rủi ro lãi suất và rủi ro thanh khoản.

Để bảo vệ biên lợi nhuận, đại diện MSB khuyến nghị giải pháp 3 trụ cột: An toàn thanh toán quốc tế (sàng lọc đối tác qua ngân hàng đại lý, mua bảo hiểm thanh toán); tài trợ vốn lưu động linh hoạt (tài trợ trước và sau giao hàng lên đến 80-90% giá trị); và quản trị rủi ro tỷ giá bằng các công cụ phòng ngừa tài chính trước khi hợp đồng diễn ra.

BIẾN TIỀM NĂNG THÀNH HIỆN THỰC

Một trong những điều kiện tiên quyết để chinh phục Thổ Nhĩ Kỳ và khối 57 quốc gia OIC (Tổ chức Hợp tác Hồi giáo) là tiêu chuẩn Halal. Chia sẻ về hành lang pháp lý mới, ông Ramlan Bin Osman, Giám đốc Trung tâm Chứng nhận Halal Quốc Gia - HALCERT (Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam) nhấn mạnh: "Halal không chỉ là câu chuyện về thịt hay tiền bạc. Ở định nghĩa rộng hơn, Halal là một hệ thống quản lý chất lượng được triển khai xuyên suốt trong toàn bộ chuỗi cung ứng”.

Ông Ramlan Bin Osman cho biết tại Nghị định số 127/2026/NĐ-CP, Chính phủ đã giao Bộ Khoa học và Công nghệ làm đầu mối quản lý nhà nước về Halal, thống nhất 4 khâu: Thử nghiệm, Chứng nhận, Gắn nhãn và Truy xuất nguồn gốc. Hiện Việt Nam đã ban hành 7 Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) về Halal và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia giúp minh bạch hóa thông tin. Đặc biệt, Trung tâm HALCERT đã chính thức nhận được sự công nhận từ Trung tâm Công nhận vùng Vịnh (GAC), mở ra cơ hội lớn cho hàng hóa Việt Nam tiến vào thị trường Trung Đông và Thổ Nhĩ Kỳ.

Từ thực tiễn thương trường, bà Bá Thị Nguyệt Thu, Giám đốc Hợp tác xã Hà Nội Xanh, CEO HalalViet, cho rằng Halal là một thị trường tiềm năng, vì vậy cần cố gắng biến tiềm năng đó thành hiện thực, thành những hợp đồng cụ thể. Rào cản chắc chắn là có, nhưng khi đã hiểu rõ thị trường thì những rào cản đó sẽ trở nên đơn giản.

Qua khảo sát thực tế tại Thổ Nhĩ Kỳ, bà Thu nhận thấy dư địa rất lớn cho nông sản thô, thực phẩm chế biến và dược mỹ phẩm Việt Nam. Từ đó, bà đúc kết lộ trình 6 bước giúp doanh nghiệp thâm nhập thị trường hiệu quả, đó là xác định rõ phân khúc sản phẩm; chuẩn bị sẵn sàng năng lực và chứng nhận xuất khẩu từ sớm; Chứng nhận Halal chính là "bảo chứng niềm tin" mạnh mẽ nhất đối với người tiêu dùng Hồi giáo; chuẩn hóa hồ sơ, bao bì, nhãn mác (bắt buộc có tiếng Anh hoặc tiếng Ả Rập); sàng lọc đối tác và chọn kênh phân phối phù hợp; mang nhiều mẫu thử đi xúc tiến thương mại để đối tác trải nghiệm trực tiếp.

Để thâm nhập hiệu quả vào thị trường Thổ Nhĩ Kỳ, bà Thu kiến nghị Chính phủ cần thúc đẩy sự công nhận lẫn nhau về tiêu chuẩn Halal giữa Việt Nam và quốc tế để Nghị định 127 phát huy tối đa tác dụng. Đồng thời xây dựng cổng thông tin thị trường Halal để hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thông tin chính xác. Cùng với đó, hỗ trợ đào tạo và tài chính cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc duy trì chứng nhận Halal dài hạn.