Giảm chi phí logistics, nâng sức cạnh tranh hàng xuất khẩu Việt Nam

16:05, 22/09/2026

Theo Cục Xuất nhập khẩu, trong 8 tháng đầu năm 2026, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 80,1% kim ngạch xuất khẩu, trong khi khu vực kinh tế trong nước nhập siêu khoảng 30,60 tỷ USD. Điều này đặt ra yêu cầu tối ưu hóa chi phí logistics phải gắn với nâng năng lực tham gia chuỗi của doanh nghiệp trong nước, thay vì chỉ hỗ trợ tăng quy mô lưu chuyển hàng hóa.

Yêu cầu tối ưu hóa chi phí logistics

Phát biểu tại Hội nghị Trao đổi giải pháp giảm chi phí logistics nhằm thúc đẩy xuất khẩu, ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương nhấn mạnh, thời gian qua, xuất nhập khẩu tiếp tục là một điểm sáng của nền kinh tế, đóng vai trò quan trọng và là một trong những động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động xuất nhập khẩu vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục được nhận diện và tháo gỡ.

Bộ Công Thương đã tổ chức nhiều sự kiện, diễn đàn nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thủ tục hành chính, hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trong quá trình đó, vấn đề giảm chi phí ngày càng nổi lên như một yêu cầu cấp thiết, đặc biệt là chi phí logistics trong hoạt động xuất nhập khẩu.

Tại hội nghị, ông Bùi Bá Nghiêm, Chuyên viên cao cấp Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương thông tin, năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 930,1 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm 2024; cán cân thương mại thặng dư 20,05 tỷ USD. Trong 8 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 770,14 tỷ USD, tăng 28,7%; xuất khẩu đạt 374,84 tỷ USD, tăng 22,4%; nhập khẩu đạt 395,30 tỷ USD, tăng 35,3%; nhập siêu khoảng 20,46 tỷ USD.

Theo ông Bùi Bá Nghiêm, trong 8 tháng đầu năm 2026, nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 90,17% kim ngạch xuất khẩu; nhóm tư liệu sản xuất chiếm 94,11% kim ngạch nhập khẩu. Nhập khẩu tăng mạnh phần lớn gắn với máy móc, linh kiện và nguyên liệu phục vụ sản xuất. Đây là tín hiệu mở rộng năng lực sản xuất, nhưng đồng thời phản ánh mức độ phụ thuộc cao vào đầu vào nhập khẩu. Nếu logistics không theo kịp, chi phí vận chuyển, lưu kho và vốn của nguyên liệu đầu vào sẽ chuyển trực tiếp vào giá thành hàng xuất khẩu.

Đáng lưu ý trong 8 tháng đầu năm 2026, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 80,1% kim ngạch xuất khẩu, trong khi khu vực kinh tế trong nước nhập siêu khoảng 30,60 tỷ USD. Điều này đặt ra yêu cầu tối ưu hóa chi phí logistics phải gắn với nâng năng lực tham gia chuỗi của doanh nghiệp trong nước, thay vì chỉ hỗ trợ tăng quy mô lưu chuyển hàng hóa.

Ở bình diện quốc tế, UNCTAD (Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển) nhận định, vận tải biển toàn cầu đang chịu tác động của căng thẳng địa chính trị, thay đổi tuyến hàng hải, chi phí nhiên liệu và bảo hiểm, lịch tàu kém ổn định. Các thị trường nhập khẩu đồng thời siết chặt yêu cầu về xuất xứ, truy xuất, an toàn, môi trường và phát thải. Doanh nghiệp vì thế phải cạnh tranh bằng cả giá, thời gian, độ tin cậy và chất lượng dữ liệu của chuỗi cung ứng.

Doanh nghiệp khó khăn do chi phí cao

Về năng lực logistics của Việt Nam, theo Ngân hàng Thế giới, chỉ số hiệu quả logistics Việt Nam năm 2023 (LPI) đạt 3,3 điểm, xếp thứ 43 trong 139 nền kinh tế và đứng thứ năm trong ASEAN. Dù vậy, Báo cáo Logistics Việt Nam 2025 ước tính chi phí logistics vẫn tương đương khoảng 16% - 17% tương đương với GDP. Chỉ tiêu này cần được hiểu là ước tính ở tầm nền kinh tế, không phải tỷ lệ chi phí của mọi ngành hàng hoặc doanh nghiệp. Sự khác biệt về phương pháp đo cũng cho thấy Việt Nam cần sớm thiết lập bộ dữ liệu và đường cơ sở chính thức, ổn định.

Giải pháp để giảm chi phí logistics

Đối với chi phí logistics, tổng chi phí logistics của một lô hàng cần được tính đầy đủ gồm: cước vận tải; phí cảng, kho bãi và dịch vụ; chi phí thủ tục, tuân thủ, tồn kho và vốn; cùng chi phí chậm trễ, hư hỏng, thiếu thông tin hoặc phải xử lý lại…

Thực tiễn từ các ngành hàng cho thấy mỗi khâu trong chuỗi đều có thể tạo thêm chi phí. Ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Dệt may Việt Nam, cho biết năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của ngành dệt may đạt 71,6 tỷ USD, trong đó xuất khẩu 46,2 tỷ USD và nhập khẩu 25,5 tỷ USD. Đối với ngành dệt may, chi phí logistics trong nước, từ nhà máy đến cảng, hiện chiếm khoảng 9-10%. Trong khi đó, dệt may là ngành có biên lợi nhuận khoảng 3-5%. Vì vậy, tiết giảm chi phí logistics có ý nghĩa trực tiếp đối với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Hiệp hội Dệt may Việt Nam kiến nghị tiếp tục cải thiện hoạt động cảng, thủ tục hải quan, mở rộng danh sách doanh nghiệp được hưởng chế độ ưu tiên hải quan đối với những doanh nghiệp quy mô lớn, hoạt động ổn định và tuân thủ tốt. Đồng thời, cần tăng kết nối đường sắt, đường sông, đường biển để giảm sự phụ thuộc vào đường bộ.

Với ngành lương thực, đại diện Hiệp hội Lương thực Việt Nam cho biết, trong 8 tháng, xuất khẩu gạo đạt khoảng 6 triệu tấn, trị giá khoảng 3 tỷ USD. Phần lớn sản xuất và nhà máy gạo tập trung tại Đồng bằng sông Cửu Long, song khu vực này còn thiếu cảng chuyên dụng nước sâu để tàu lớn khai thác, khiến doanh nghiệp phải vận chuyển hàng lên Thành phố Hồ Chí Minh, phát sinh thêm chi phí.

Trong khi đó, đại diện Hiệp hội Dừa Việt Nam cho biết vấn đề kho vận và xử lý sau thu hoạch cũng tạo thêm chi phí. Việc thiếu các dịch vụ hun trùng, chiếu xạ tại miền Bắc khiến một số doanh nghiệp phải đưa hàng vào miền Nam để thực hiện, sau đó lưu kho, làm tăng chi phí và ảnh hưởng thời gian bảo quản.

Với thủy sản, đại diện VASEP cho rằng chi phí logistics còn bao gồm kho lạnh, kho bãi, container và các chi phí phát sinh liên quan đến tàu, giấy tờ. Hiệp hội đề nghị xây dựng cơ sở xác định chi phí vận chuyển container, có dự báo để doanh nghiệp chủ động tính toán khi ký hợp đồng với đối tác; đồng thời đẩy nhanh số hóa, liên thông thủ tục giấy tờ.

Theo Cục Xuất nhập khẩu, giảm chi phí logistics cần được triển khai đồng thời trên nhiều nhóm giải pháp. Trước hết là tổ chức lại vận tải theo hành lang và tăng kết nối đa phương thức. Cùng với đó là giảm thời gian và chi phí tại cảng biển, sân bay, cửa khẩu và kho thông qua đặt lịch, điều phối phương tiện, trao đổi dữ liệu trước khi hàng đến và công khai trạng thái xử lý.

Một nhóm giải pháp quan trọng khác là đẩy mạnh tạo thuận lợi thương mại và kiểm tra chuyên ngành dựa trên rủi ro. Các Bộ quản lý chuyên ngành cần xác định chứng từ trùng lặp, thực hiện nguyên tắc cung cấp dữ liệu một lần, xử lý trước khi hàng đến, tăng quản lý rủi ro và hậu kiểm khi đủ điều kiện.

Cục Xuất nhập khẩu cũng đề xuất phát triển cơ sở dữ liệu và nền tảng điều phối logistics dùng chung, kết nối các hệ thống hiện có, phục vụ theo dõi luồng hàng, năng lực cảng và kho, đặt lịch, cảnh báo ùn tắc, truy xuất và xử lý vướng mắc liên ngành.

Đối với doanh nghiệp, yêu cầu đặt ra là quản trị theo tổng chi phí đến thị trường; chuẩn hóa dữ liệu đơn hàng, dự báo sản lượng, tối ưu bao bì và hệ số chất xếp, kiểm soát tồn kho, lựa chọn điều kiện giao hàng và phương án tuyến thay thế. Doanh nghiệp logistics cần tăng liên kết, phát triển dịch vụ tích hợp, nâng năng lực đa phương thức và logistics lạnh.