Nghị định 287: Cụ thể hóa cơ chế trả tiền bản quyền trong lĩnh vực văn hóa
Việc Nghị định 287/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/9/2026 giúp làm rõ các quy định về cơ chế trả tiền bản quyền trong điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, nghệ thuật biểu diễn, báo chí và xuất bản.
- Sửa Nghị định 147: Siết chặt và hoàn thiện cơ chế quản lý game thể thao điện tử
- Nghị định 179 'hút' người học vào ngành khoa học, công nghệ chiến lược
- Nghị định 302/2026/NĐ-CP: Hoàn thiện khung pháp lý thị trường giao dịch hàng hóa
- Nghị định 314/2026 quy định điều kiện giao dịch trên sàn dữ liệu từ 25/9
Ngày 17/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 287/2026/NĐ-CP quy định về tiền bản quyền đối với hoạt động sáng tạo bằng nguồn ngân sách nhà nước và việc khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý.
Theo Điều 20, Nghị định có hiệu lực từ ngày 1/9/2026. Cùng thời điểm, Nghị định 18/2014/NĐ-CP về chế độ nhuận bút trong lĩnh vực báo chí, xuất bản và Nghị định 21/2015/NĐ-CP về nhuận bút, thù lao đối với tác phẩm điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, sân khấu và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác hết hiệu lực.

Ảnh minh họa
Hai nhóm trường hợp được điều chỉnh
Theo Điều 1 Nghị định 287/2026/NĐ-CP, văn bản tập trung điều chỉnh hai nhóm nội dung.
Một là tiền bản quyền trả cho việc sáng tạo tác phẩm bằng nguồn ngân sách nhà nước theo điểm a khoản 1 Điều 42 Luật Sở hữu trí tuệ.
Hai là tiền bản quyền trả cho việc khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý theo khoản 1 và khoản 2 Điều 42 Luật Sở hữu trí tuệ.
Các quy định này áp dụng trong 6 lĩnh vực gồm điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, nghệ thuật biểu diễn, báo chí và xuất bản.
Đối với tác phẩm được sáng tạo bằng nguồn ngân sách nhà nước theo phương thức giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đầu tư toàn bộ nhưng không thuộc 6 lĩnh vực trên, việc trả tiền bản quyền thực hiện theo Điều 3 Nghị định, đồng thời căn cứ định mức kinh tế, kỹ thuật của lĩnh vực chuyên ngành và các quy định pháp luật có liên quan.
Riêng việc khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan thuộc phạm vi giới hạn quyền tác giả, giới hạn quyền liên quan không thuộc phạm vi áp dụng của Nghị định 287/2026/NĐ-CP, mà tiếp tục thực hiện theo Nghị định 17/2023/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 134/2026/NĐ-CP.
Về nguyên tắc, Điều 3 quy định tiền bản quyền đối với hoạt động sáng tạo bằng nguồn ngân sách nhà nước được thực hiện theo pháp luật về giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đầu tư và các quy định của Nghị định 287.
Đối với hoạt động khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý, mức tiền bản quyền được xác định trên cơ sở thỏa thuận bằng văn bản giữa cơ quan đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý với tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng.
Điện ảnh: Tiền bản quyền gắn với giá thành sản xuất
Điều 4 Nghị định 287 quy định tiền bản quyền đối với hoạt động sáng tạo tác phẩm điện ảnh được xác định theo hai căn cứ.
Đối với tác phẩm thực hiện theo phương thức giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu, tiền bản quyền được chi trả theo định mức kinh tế, kỹ thuật lĩnh vực điện ảnh. Trường hợp chức danh sáng tạo chưa được quy định trong định mức kinh tế, kỹ thuật thì căn cứ quy định về chức danh nghề nghiệp lĩnh vực điện ảnh để xác định mức chi trả.
Bên cạnh đó, một số chức danh sáng tạo được hưởng tiền bản quyền tính theo tỷ lệ phần trăm giá thành sản xuất phim. Giá thành này không bao gồm chi phí bán hàng, chi phí quản lý và chi phí tài chính.
Đối với phim truyện, tỷ lệ tiền bản quyền được quy định cho từng chức danh. Trong đó, biên kịch được hưởng từ 2,25% đến 2,75%; đạo diễn từ 2,5% đến 3%; đạo diễn hình ảnh từ 1,7% đến 2,1%; nhạc sĩ từ 1,5% đến 1,9% giá thành sản xuất phim.
Đối với phim tài liệu, phim khoa học và phim hoạt hình, Nghị định cũng quy định khung tỷ lệ riêng cho các chức danh sáng tạo như biên kịch, đạo diễn, quay phim, họa sĩ, người dựng phim, thiết kế âm thanh.
Các tỷ lệ được xác định theo chức danh sáng tạo, không phụ thuộc số lượng người cùng đảm nhiệm một chức danh.
Nghị định cũng quy định trường hợp biên kịch chuyển thể được hưởng 70% mức tiền bản quyền của biên kịch, phần còn lại thuộc về tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm gốc.
Đối với tác phẩm điện ảnh thuộc đề tài trẻ em, dân tộc thiểu số, các chức danh sáng tạo được hưởng thêm tiền bản quyền khuyến khích từ 5% đến 10% mức tiền bản quyền của tác phẩm cùng thể loại.
Trường hợp phim có chi phí sản xuất đặc biệt cao, mức tiền bản quyền có thể được xác định theo thỏa thuận nhưng không vượt quá hai lần mức tiền bản quyền của tác phẩm có chi phí sản xuất bình quân cùng loại.
Trong khi đó, tiền bản quyền đối với việc khai thác, sử dụng tác phẩm điện ảnh được quy định tại Điều 6 và được xác định trên cơ sở thỏa thuận bằng văn bản giữa cơ quan đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý với bên khai thác, sử dụng.
Mức tiền được xác định căn cứ các yếu tố như tần suất, thời lượng, mục đích, hình thức, phạm vi khai thác, doanh thu, lợi nhuận thu được hoặc các tiêu chí khác theo quy định pháp luật.
Mỹ thuật: Mức tiền bản quyền tính theo giá thành tác phẩm
Đối với mỹ thuật, Điều 7 quy định tiền bản quyền đối với tác phẩm được xác định chủ yếu theo tỷ lệ phần trăm giá thành tác phẩm.
Với tác phẩm có giá thành đến 10 tỷ đồng, tỷ lệ tiền bản quyền được xác định theo các khung giá thành. Theo đó, tác phẩm có giá thành đến 1 triệu đồng được hưởng tối đa 60% giá thành.
Khi giá thành tăng, tỷ lệ phần trăm giảm dần theo các ngưỡng được Nghị định quy định. Cụ thể, từ 1 đến 5 triệu đồng là 60% đến 40%; từ 5 đến 10 triệu đồng là 40% đến 28%; từ 10 đến 20 triệu đồng là 28% đến 27%.
Ở các khung giá thành cao hơn, tỷ lệ tiếp tục giảm, từ 27% đến 26% đối với tác phẩm có giá thành từ 20 đến 30 triệu đồng, 26% đến 25% từ 30 đến 40 triệu đồng, 25% đến 24% từ 40 đến 50 triệu đồng.
Đối với tác phẩm có giá thành từ 50 đến 60 triệu đồng, tỷ lệ là 24% đến 23%; từ 60 đến 70 triệu đồng là 23% đến 22%; từ 70 đến 80 triệu đồng là 22% đến 21%; từ 80 đến 90 triệu đồng là 21% đến 20%.
Tỷ lệ tiếp tục giảm theo từng khung giá thành, từ 20% đến 19% đối với tác phẩm từ 90 đến 100 triệu đồng; 19% đến 18% từ 100 đến 200 triệu đồng; 18% đến 17% từ 200 đến 300 triệu đồng; 17% đến 16% từ 300 đến 400 triệu đồng và 16% đến 15% từ 400 đến 500 triệu đồng.
Đối với tác phẩm có giá thành từ 500 đến 600 triệu đồng, tỷ lệ là 15% đến 14%; từ 600 đến 700 triệu đồng là 14% đến 13%; từ 700 đến 800 triệu đồng là 13% đến 12%; từ 800 đến 900 triệu đồng là 12% đến 11%.
Từ 900 triệu đồng đến 1 tỷ đồng, tỷ lệ là 11% đến 9,9%. Với tác phẩm có giá thành từ 1 đến 2 tỷ đồng, tỷ lệ là 9,9% đến 8,9%; từ 2 đến 3 tỷ đồng là 8,9% đến 8%; từ 3 đến 4 tỷ đồng là 8% đến 7,2%; từ 4 đến 5 tỷ đồng là 7,2% đến 6,5%.
Từ 5 đến 6 tỷ đồng, tỷ lệ là 6,5% đến 5,9%; từ 6 đến 7 tỷ đồng là 5,9% đến 5,4%; từ 7 đến 8 tỷ đồng là 5,4% đến 5%; từ 8 đến 9 tỷ đồng là 5% đến 4,7%; từ 9 đến 10 tỷ đồng là 4,7% đến 4,5%.
Với tác phẩm có giá thành trên 10 tỷ đồng, tiền bản quyền được tính bằng mức tiền bản quyền của tác phẩm có giá thành 10 tỷ đồng cộng thêm 1% phần giá thành vượt quá 10 tỷ đồng.
Nghị định cũng quy định một số trường hợp đặc thù. Tác giả chỉ thực hiện bản vẽ mẫu nhưng chưa trực tiếp tạo thành tác phẩm mẫu được hưởng từ 50% đến 70% mức tiền bản quyền. Tác giả của tác phẩm mỹ thuật phái sinh được hưởng từ 40% đến 55% mức tiền bản quyền, phần còn lại trả cho chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm gốc.
Nhiếp ảnh: Tiền bản quyền gắn với quy mô khai thác
Đối với việc khai thác, sử dụng tác phẩm mỹ thuật và tác phẩm nhiếp ảnh, Điều 8 quy định tiền bản quyền được xác định theo quy mô trưng bày, triển lãm, với đơn vị tính là mức lương cơ sở.
Đối với triển lãm quốc tế, tác phẩm mỹ thuật được trả từ 1,00 đến 1,80 lần mức lương cơ sở, trong khi tác phẩm nhiếp ảnh được trả từ 0,80 đến 1,20 lần mức lương cơ sở.
Ở quy mô quốc gia, mức tiền bản quyền đối với tác phẩm mỹ thuật là từ 1,00 đến 1,50 lần mức lương cơ sở, còn tác phẩm nhiếp ảnh từ 0,80 đến 1,00 lần mức lương cơ sở.
Đối với những trường hợp khai thác, sử dụng khác chưa được quy định cụ thể, tiền bản quyền được xác định theo định mức kinh tế, kỹ thuật chuyên ngành. Nếu chưa có định mức, các bên thỏa thuận trên cơ sở quy định của pháp luật.
Mở rộng cơ chế sang báo chí, xuất bản và nghệ thuật biểu diễn
Không chỉ điều chỉnh tiền bản quyền trong điện ảnh, mỹ thuật và nhiếp ảnh, Nghị định 287/2026/NĐ-CP còn thiết lập cơ chế trả tiền bản quyền đối với nghệ thuật biểu diễn, báo chí và xuất bản.
Đối với tác phẩm báo chí thuộc loại hình báo in, báo điện tử, tiền bản quyền khi khai thác, sử dụng do các bên thỏa thuận. Việc xác định mức tiền phải xem xét các yếu tố như tần suất, thời lượng, vị trí, mục đích, phạm vi, hình thức và phương tiện khai thác, sử dụng.
Đáng chú ý, mức tiền bản quyền trong trường hợp này không được thấp hơn 20% tiền bản quyền sáng tạo tác phẩm.
Việc ban hành Nghị định 287/2026/NĐ-CP tạo cơ sở cụ thể hơn để xác định tiền bản quyền trong các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật thuộc phạm vi điều chỉnh, đặc biệt đối với các tác phẩm được sáng tạo bằng nguồn ngân sách nhà nước và các trường hợp Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý quyền tác giả, quyền liên quan.
