Tiền gửi tăng tốc, áp lực lãi suất bắt đầu hạ nhiệt?
Tốc độ huy động vốn đã vượt tăng trưởng tín dụng, giúp thanh khoản ngân hàng bớt căng thẳng. Tuy nhiên, khi cuộc cạnh tranh tiền gửi vẫn nóng và nhu cầu vốn cuối năm tăng cao, khả năng lãi suất giảm mạnh trong ngắn hạn còn khá hạn chế.
Hơn 1,4 triệu tỷ đồng trở lại ngân hàng
Dòng tiền nhàn rỗi đang quay trở lại hệ thống ngân hàng với tốc độ đáng chú ý. Đến ngày 22/8, huy động vốn bằng đồng Việt Nam tăng 8,77% so với cuối năm 2025, cao hơn mức tăng 8,38% của tín dụng.
Diễn biến này cho thấy sự đảo chiều so với cuối quý II/2026. Khi đó, tín dụng đã tăng khoảng 7,4%, trong khi huy động vốn chỉ tăng hơn 5%, khiến nhiều ngân hàng phải nâng lãi suất để bổ sung nguồn tiền.
Với tổng tiền gửi cuối năm 2025 vào khoảng 16,5 triệu tỷ đồng, ước tính hơn 1,4 triệu tỷ đồng đã được đưa thêm vào hệ thống trong hơn tám tháng đầu năm. Khoảng cách giữa huy động và cho vay nhờ đó từng bước thu hẹp, góp phần cải thiện thanh khoản và giảm sức ép lên chi phí vốn.
Sự trở lại của dòng tiền gửi diễn ra trong bối cảnh lãi suất tiết kiệm vẫn được duy trì ở mức tương đối hấp dẫn. Phần lớn ngân hàng đang niêm yết mức tối đa 4,75%/năm đối với kỳ hạn dưới 6 tháng. Ở kỳ hạn từ 6 đến 12 tháng, lãi suất phổ biến trong khoảng 6,5–8%/năm. Một số chương trình dành cho khách hàng đáp ứng điều kiện riêng đưa mức sinh lời lên khoảng 9%/năm.
Nhóm ngân hàng quốc doanh gồm Vietcombank, VietinBank, BIDV và Agribank tiếp tục giữ mặt bằng khá đồng đều. Lãi suất kỳ hạn 3 tháng khoảng 4,75%/năm, kỳ hạn 6–9 tháng khoảng 6,6% và kỳ hạn 12–18 tháng khoảng 6,8%.
Khoảng cách giữa kỳ hạn ngắn và dài tại nhóm này không lớn. Đây là lựa chọn phù hợp với những người muốn chủ động xoay vòng tiền nhưng vẫn nhận được mức lãi suất gần với gửi dài hạn.
Trong khi đó, các ngân hàng tư nhân đang cạnh tranh quyết liệt hơn. ACB niêm yết lãi suất 7,6%/năm cho kỳ hạn 6 tháng và 7,8% cho kỳ hạn từ 12 tháng. Sacombank áp dụng lần lượt khoảng 7,2% và 7,5%. Nhiều ngân hàng tư nhân lớn khác cũng đưa lãi suất tiền gửi 12 tháng vượt 7%/năm.
Ở nhóm ngân hàng quy mô vừa và nhỏ, LPBank duy trì mức 7,2%/năm cho kỳ hạn 12 tháng. Saigonbank, BacABank và PGBank cũng áp dụng mức quanh 7% cho các kỳ hạn từ 6 đến 18 tháng.
Tuy nhiên, mặt bằng thị trường không hoàn toàn đồng nhất. Lãi suất tại SeABank và Eximbank dao động khoảng 4,65–5,45%/năm. Riêng SCB niêm yết từ 1,9–3,9%/năm trong bối cảnh ngân hàng này đang được kiểm soát đặc biệt.

Tốc độ huy động vốn đã vượt tăng trưởng tín dụng, giúp thanh khoản ngân hàng bớt căng thẳng.
Lãi suất khó giảm nhanh trong những tháng cuối năm
Không chỉ cạnh tranh bằng tiền gửi tiết kiệm, một số ngân hàng còn đẩy mạnh phát hành chứng chỉ tiền gửi với mức sinh lời cao hơn.
Tại MB, lợi suất chứng chỉ tiền gửi cao hơn khoảng 1,3–2,3 điểm phần trăm so với gửi tiết kiệm trực tuyến. Kỳ hạn 3–5 tháng được áp dụng mức 7%/năm, còn kỳ hạn 6–9 tháng khoảng 7,1%.
VPBank đưa ra mức 7,3–9%/năm đối với một số khoản tiền từ 100 triệu đồng, kỳ hạn dưới 6 tháng. Vietcombank cũng niêm yết chứng chỉ tiền gửi trực tuyến kỳ hạn 12 tháng ở mức 7,9%/năm, cao hơn mức 6,8% của tiền gửi thông thường.
Lãi suất cao có thể mang lại khoản thu nhập lớn hơn, nhưng người gửi tiền cần xem xét cả điều kiện rút trước hạn, khả năng chuyển nhượng và mức độ an toàn của tổ chức nhận tiền. Với khoản gửi 1 tỷ đồng, chênh lệch hơn 1 điểm phần trăm tương đương khoảng 11 triệu đồng tiền lãi mỗi năm.
Bởi vậy, việc dồn toàn bộ tiền vào nơi trả lãi cao nhất chưa chắc là phương án phù hợp. Chia tiền thành nhiều khoản, lựa chọn các kỳ hạn khác nhau và gửi tại một số tổ chức tín dụng có thể giúp người gửi chủ động hơn khi cần sử dụng vốn.
Dù huy động vốn đang tăng nhanh, tổng dư nợ cho vay vẫn cao hơn tiền gửi gần 2 triệu tỷ đồng. Điều này cho thấy áp lực cân đối nguồn vốn chưa hoàn toàn biến mất, nhất là khi nhu cầu vay phục vụ sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng thường gia tăng vào cuối năm.
Một số dấu hiệu hạ nhiệt đã xuất hiện. Tại Vietcombank, lãi suất cho vay bình quân trong tháng 7/2026 giảm còn khoảng 7,4%/năm. Trên thị trường trái phiếu ngân hàng, lãi suất các lô kỳ hạn 3–6 năm của nhóm ngân hàng tư nhân lùi về quanh 9%, trong khi nhóm quốc doanh dao động từ 7,87–8,2%/năm.
Việc tiền gửi tăng nhanh hơn tín dụng giúp các ngân hàng có thêm dư địa ổn định thanh khoản và hạn chế một cuộc đua lãi suất mới. Tuy nhiên, điều này chưa đồng nghĩa mặt bằng lãi suất sẽ giảm ngay. Chi phí huy động hiện vẫn cao, trong khi nhu cầu vốn những tháng cuối năm được dự báo tiếp tục tăng.
Kịch bản dễ xảy ra hơn là lãi suất huy động đi ngang hoặc chỉ điều chỉnh nhẹ, còn lãi suất cho vay giảm có chọn lọc đối với khách hàng tốt, lĩnh vực ưu tiên và các khoản vay có mức độ rủi ro thấp.
Để hạ thêm chi phí vốn cho nền kinh tế, chính sách tiền tệ cần được điều hành linh hoạt, bảo đảm thanh khoản nhưng không tạo áp lực lên tỷ giá và lạm phát. Cùng với đó, đẩy nhanh giải ngân đầu tư công và mở rộng thị trường trái phiếu, cổ phiếu sẽ giúp doanh nghiệp có thêm kênh huy động vốn, qua đó giảm sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.
