Từ tăng cường thực thi bản quyền phần mềm đến thúc đẩy sử dụng Phần mềm nguồn mở tại Việt Nam
Tại Hội thảo “Linux và Phần mềm nguồn mở”, Tiến sĩ Hà Nguyệt Thu cho rằng thúc đẩy phần mềm nguồn mở có thể là một hướng tiếp cận để kết hợp giữa thực thi quyền sở hữu trí tuệ, tạo điều kiện tuân thủ và tăng cường tự chủ công nghệ.
Khi tuân thủ bản quyền trở thành yêu cầu bắt buộc
Theo Tiến sĩ Hà Nguyệt Thu, Khoa Luật, Đại học Phenikaa, phần mềm là một trong những đối tượng được pháp luật sở hữu trí tuệ bảo hộ. Vì vậy, việc sử dụng phần mềm không có giấy phép hoặc sao chép trái phép có thể dẫn tới các chế tài pháp lý, từ xử phạt hành chính đến trách nhiệm hình sự trong những trường hợp đủ điều kiện theo quy định.
Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, mức xử lý cao nhất có thể dẫn đến trách nhiệm hình sự theo Điều 225. Xử lý hành chính áp dụng mức phạt từ 15 đến 35 triệu đồng đối với cá nhân và gấp đôi đối với tổ chức.
Từ tháng 5 (sau kỳ nghỉ lễ 30/4 - 1/5), chiến dịch toàn quốc xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có xâm phạm phần mềm, đã khiến các chủ thể vi phạm trở thành đối tượng trực tiếp của lực lượng thanh tra, kiểm tra.
Ngược lại, mua bản quyền thương mại được đánh giá là văn minh và “đáng đồng tiền bát gạo”. Nhưng chi phí đắt đỏ, không có ưu đãi, đồng thời tạo sự lệ thuộc hoàn toàn vào nhà cung cấp. Khó khăn này không chỉ của doanh nghiệp mà còn của cơ quan nhà nước và trường đại học.

Tiến sĩ Hà Nguyệt Thu phát biểu tại tham luận. Ảnh: BTC.
Con số cụ thể làm rõ mức độ khó khăn. Theo Tổng cục Thống kê, thu nhập bình quân lao động Việt Nam năm 2025 (công bố tháng 1/2026) chỉ đạt 8,4 triệu đồng/tháng, trong khi mức phạt hành chính cho hành vi sao chép phần mềm trái phép là 15 - 35 triệu đồng. “Mỗi một chủ thể… chắc chắn không có ai không sử dụng phần mềm… người ta phải trả tiền cho những khoản lớn như thế này thì thực sự là rất rất là khó”.
Áp lực còn đến từ sân chơi quốc tế. Cuối tháng 4, đầu tháng 5, Báo cáo Đặc biệt 301 của Hoa Kỳ đặt Việt Nam vào danh sách “quốc gia nước ngoài ưu tiên” - mức xếp hạng cao nhất về xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, lần đầu tiên sau 13 năm không có quốc gia nào bị xếp vào mức này. Một trong năm căn cứ được nêu đích danh là “Việt Nam thiếu các hành động thực thi đối với việc sử dụng phần mềm không có giấy phép”.
Câu hỏi trung tâm: từ thực thi đến kiến tạo tuân thủ
Từ những thực tiễn nêu trên, diễn giả đặt câu hỏi: “Chính sách bản quyền phần mềm có thể phát triển như thế nào? Từ thực thi quyền đơn thuần sang kết hợp thực thi,kiến tạo, và tạo điều kiện kiện tuân thủ? Trong quá trình đó, phần mềm nguồn mở sẽ giữ vai trò như thế nào?"
Tiến sĩ Hà Nguyệt Thu khẳng định: “Thực thi là xu hướng tất yếu rồi, không thể nào đảo ngược được. Nghĩa vụ pháp lý, hội nhập quốc tế và áp lực đối với các đối tác thương mại là cái mà bắt buộc chúng ta sẽ phải thực hiện”. Vấn đề then chốt là làm thế nào vừa thực thi nghiêm minh vừa tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp vừa và nhỏ, để tuân thủ.
Lời giải được chỉ ra là tìm cách thức thay thế với chi phí hợp lý, trong đó phần mềm nguồn mở có thể là giải pháp phù hợp. Ở góc độ chính sách, Nhà nước cần đóng vai trò kiến tạo: “Nhà nước phải song hành vừa thực thi, vừa kiến tạo cơ hội phát triển cho hệ sinh thái; và việc không chỉ phạt mà sẽ phải hướng dẫn tuân thủ và tạo thuận lợi cho việc phát triển theo hướng nguồn mở”.
Từ bảo vệ quyền đóng sang kiến tạo môi trường tuân thủ mở
Để làm rõ hơn hướng tiếp cận này, diễn giả đưa vấn đề ra khỏi phạm vi Việt Nam và nhìn vào cách thế giới đang ứng xử với phần mềm nguồn mở.
Theo Tiến sĩ Hà Nguyệt Thu, với Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO), việc sử dụng phần mềm chia sẻ và phần mềm nguồn mở “không đồng nghĩa với việc từ bỏ quyền tác giả, mà là cách thức mới để chủ thể quyền thực thi chính những quyền tác giả của mình”.
Cấp phép mở là công cụ vận dụng hợp pháp trong khuôn khổ pháp luật quyền tác giả hiện hành, không phải ngoại lệ hay lỗ hổng. Chủ sở hữu vẫn dùng quyền độc quyền để cấp phép có điều kiện, không từ bỏ quyền sở hữu trí tuệ.
Thúc đẩy phần mềm mở hoàn toàn phù hợp với Công ước Berne và Hiệp định TRIPS mà Việt Nam là thành viên. Diễn giả nhấn mạnh: “phần mềm nguồn mở không phải là phần mềm dùng miễn phí. Nó vẫn có quyền sở hữu trí tuệ ở đó, nhưng nó được dùng theo cái cách thức khác với cái cách thức mà khai thác độc quyền thương mại”.
Ở châu Âu, định hướng của WIPO đã được cụ thể hóa thành chính sách mạnh mẽ. Xuất phát từ thực tế hàng năm phải chi đến 260 tỷ Euro để mua sản phẩm, dịch vụ công nghệ thông tin độc quyền từ Hoa Kỳ, Ủy ban châu Âu đã xây dựng văn kiện chính sách kèm Chiến lược phần mềm nguồn mở châu Âu (ban hành ngày 13 tháng 6 năm 2026) nhằm thảo luận về sự phụ thuộc công nghệ số, ảnh hưởng đến năng lực kiểm soát hạ tầng kỹ thuật then chốt.
Theo diễn giả, bốn nhóm giải pháp được nhấn mạnh gồm:
- Mua sắm công: Tiền công phải phục vụ mục đích công. Bắt buộc làm rõ và công khai toàn bộ chi phí (không chỉ chi phí ban đầu mà bao gồm bảo trì, chuyển giao công nghệ, chuyên gia, thay thế) để so sánh với phần mềm mã nguồn mở, xác định chi phí hợp lý và hiệu quả.
- Xây dựng nền tảng mở chuẩn hóa: Triển khai hệ điều hành và không gian làm việc số mã nguồn mở, tạo phương án thay thế sẵn có cho nhà nước và doanh nghiệp.
- An toàn chuỗi cung ứng: Đạo luật Khả năng phục hồi mạng thể chế hóa vai trò của các tổ chức quản trị nguồn mở, đưa trách nhiệm của các tổ chức này vào hệ thống quản trị cùng quốc gia.
- Hệ thống hỗ trợ: Thiết lập Văn phòng quản trị nguồn mở cấp Liên minh châu Âu và mạng lưới khu vực công với đầu mối quản trị cho các cơ quan và chuyên gia.
Việt Nam: từ chủ trương đến chuỗi hành động
Đặt trong bối cảnh Việt Nam, Tiến sĩ Hà Nguyệt Thu cho rằng thời điểm hiện nay đang tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi để thúc đẩy phần mềm nguồn mở.
Nền tảng quan trọng trước hết đến từ Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trong đó đặt yêu cầu tăng cường năng lực tự chủ, tự lực về công nghệ. Theo diễn giả, đây là định hướng có ý nghĩa đối với việc phát triển các mô hình công nghệ mở.
Cùng với chủ trương, một số chính sách và chương trình được ban hành trong năm 2026 cũng tạo thêm cơ sở cho việc thúc đẩy hệ sinh thái công nghệ số và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
Theo Tiến sĩ Hà Nguyệt Thu, Chương trình phát triển công nghiệp công nghệ số quốc gia giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045 được ban hành trong tháng 5/2026 đã đề cập tới việc hỗ trợ kinh phí mua sắm bản quyền phần mềm với chi phí hợp lý. Đây có thể là cơ sở để tiếp tục nghiên cứu, mở rộng chính sách theo hướng tính đến cả các giải pháp nguồn mở phù hợp.
Bên cạnh đó, Đề án hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp công nghệ số vươn ra toàn cầu đến năm 2030 có nội dung hỗ trợ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Ngày 21/8/2026, Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành quyết định sửa đổi Chiến lược sở hữu trí tuệ đến năm 2030, trong đó có những nội dung liên quan đến tăng cường xử lý vi phạm bằng biện pháp dân sự và xác định trách nhiệm của các nền tảng trung gian.
Những chính sách này, theo diễn giả, cần được nhìn nhận như một chuỗi hành động liên tục, thay vì những phản ứng riêng lẻ trước sức ép từ bên ngoài.

Tiến sĩ Hà Nguyệt Thu trình bày tại tham luận. Ảnh: BTC.
Từ kinh nghiệm thực tiễn tại Cục Sở hữu trí tuệ, Tiến sĩ Hà Nguyệt Thu chỉ ra một số tồn tại: quản trị và tuân thủ giấy phép chưa thực sự bài bản (phần mềm nguồn mở chưa được đưa thành vấn đề mang tính bài bản ở cấp quốc gia); ứng dụng phần mềm nguồn mở trong khu vực công còn hạn chế; cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp còn có vấn đề. Bà lưu ý nếu người hoạch định chính sách đặt mình vào vị trí doanh nghiệp và người dân thì hiệu quả sẽ cao hơn.
Về chính sách sở hữu trí tuệ trong kỷ nguyên số, Việt Nam cần đảm bảo hai điều: “phải thực thi nghiêm minh, nhưng đồng thời phải kiến tạo tuân thủ”. Nếu làm được, sẽ đạt được các mục tiêu: tuân thủ nghĩa vụ quốc tế; tiếp cận phần mềm giá hợp lý; phát huy nội lực của kỹ sư công nghệ thông tin; hiện thực hóa tự chủ công nghệ theo tinh thần Nghị quyết 57.
Tiến sĩ Hà Nguyệt Thu kết luận: “chúng ta đang ở thời điểm rất thuận lợi cho việc phát triển phần mềm nguồn mở tại Việt Nam. Và những gì mà chúng ta đang làm, thậm chí chúng ta sẽ làm thì tôi hy vọng là nó sẽ đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế đất nước, cũng như là làm cho chúng ta có thể ngẩng cao đầu khi mà chúng ta đi ra trường quốc tế”.
