Chuỗi giá trị công nghệ châu Á dịch chuyển, doanh nghiệp Việt trước cơ hội bứt phá
Trong bối cảnh AI đang tái định hình bản đồ công nghệ châu Á, Việt Nam nổi lên như một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng với thị phần thiết bị tăng trưởng. Để tận dụng cơ hội, doanh nghiệp cần sẵn sàng về năng lực vận hành,quản trị, nhân lực và tăng cường kết nối với chuỗi cung ứng toàn cầu...

Ảnh minh họa - Nguồn: Qualcomm Việt Nam
Trí tuệ nhân tạo (AI) tại châu Á hiện nay không đơn thuần là một câu chuyện công nghệ riêng lẻ, mà đã phát triển thành một dòng chảy thương mại mang tầm quốc gia đối với các nền kinh tế lấy xuất khẩu làm trọng tâm. Sự dịch chuyển của các hành lang thương mại mới đang tạo ra mạng lưới sản xuất tích hợp sâu sắc giữa khu vực Bắc Á và Đông Nam Á.
Trong xu thế đó, vai trò của Việt Nam đang dịch chuyển mạnh mẽ từ một cứ điểm lắp ráp sang mắt xích có giá trị cao hơn trong chuỗi cung ứng công nghệ khu vực, từng bước tham gia vào các khâu sản xuất, vận hành và phát triển các ứng dụng AI.
VỊ THẾ MỚI CỦA VIỆT NAM TRÊN BẢN ĐỒ THƯƠNG MẠI CÔNG NGHỆ CAO
Theo Khối Nghiên cứu Đầu tư HSBC (HSBC Global Investment Research), thương mại nội vùng châu Á đối với hàng hóa liên quan đến AI như chip bán dẫn, linh kiện và thiết bị để công nghệ AI vận hành đã tăng lên gần 2.000 tỷ USD trong năm 2025, gấp đôi so với mức trước đại dịch và hiện hàng hóa liên quan đến AI đang chiếm 35% tổng kim ngạch xuất khẩu của châu Á, tăng so với mức 19% của thập kỷ trước.
Ông Tim Evans, Tổng Giám đốc Điều hành HSBC Việt Nam, cho biết nhiều hiệp định thương mại trong hai thập kỷ qua hứa hẹn hội nhập khu vực sâu rộng hơn và giờ đây AI đang hiện thực hóa cơ hội đó. Những hành lang thương mại mới đang hình thành giữa Bắc Á và Đông Nam Á giúp kết nối chip nhớ của Hàn Quốc, tấm bán dẫn tiên tiến của Đài Loan, thiết bị chính xác của Nhật Bản với năng lực lắp ráp và kiểm tra đang mở rộng nhanh chóng tại Đông Nam Á để trở thành một mạng lưới sản xuất thống nhất. Trong đó, hơn 30% hoạt động thương mại liên quan đến AI của châu Á đang diễn ra tại chính khu vực này
Cũng theo ông Tim Evans, Việt Nam là quốc gia có bước tiến nhanh và xa hơn các nền kinh tế khác trong khu vực. Dẫn số liệu từ Khối Nghiên cứu Đầu tư HSBC, ông Tim cho biết thị phần thương mại toàn cầu của Việt Nam trong mảng thiết bị liên quan đến AI đã tăng mạnh từ mức 1,2% vào năm 2015 lên 12,4% vào năm 2025. Đây là tốc độ tăng trưởng cao hàng đầu thế giới đối với một nền kinh tế riêng lẻ trong vòng một thập kỷ qua.
Trong quý 1/2026, Đài Loan lần đầu tiên trong lịch sử ghi nhận thâm hụt thương mại theo quý với Việt Nam. Đồng thời, trong ba tháng tính đến tháng 5, kim ngạch nhập khẩu của Đài Loan từ Việt Nam tăng tới 173% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu nhờ các mặt hàng như máy móc, thiết bị điện và đồ điện gia dụng. Ở chiều ngược lại, đầu năm 2026, xuất khẩu của Hàn Quốc sang Việt Nam cũng ghi nhận mức tăng mạnh nhất trong khu vực Đông Nam Á.
Ông Tim nhận định: “Điều này phản ánh mối liên kết sản xuất ngày càng chặt chẽ giữa hai nước, đồng thời cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của Việt Nam trong khâu lắp ráp cuối cùng các sản phẩm phần cứng máy tính, bao gồm cả thiết bị phục vụ máy chủ AI”.
Ông Tim Evans, Tổng Giám đốc Điều hành HSBC Việt Nam - Ảnh: HSBC.
“Những số liệu trên cho thấy một sự chuyển dịch đáng kể trong vị thế của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Việt Nam không còn chỉ là điểm lắp ráp có chi phí thấp ở cuối chuỗi giá trị mà đã trở thành một mắt xích quan trọng trong mạng lưới sản xuất đa phương. Việt Nam nhập khẩu các linh kiện và đầu vào có giá trị cao từ Đài Loan và Hàn Quốc, đồng thời không ngừng mở rộng quy mô và nâng cao trình độ sản xuất. Từ đó, các sản phẩm hoàn chỉnh và hàng hóa trung gian được xuất khẩu trở lại thị trường châu Á cũng như nhiều khu vực khác trên thế giới. Các dòng chảy thương mại hai chiều ngày càng phát triển mạnh, góp phần củng cố vị thế của Việt Nam trong chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu”.
Bên cạnh đó, Tổng Giám đốc HSBC cho rằng sự vươn lên này còn chịu tác động từ chính sách nội địa. Chính phủ Việt Nam hiện đã đề ra chiến lược quốc gia về phát triển công nghiệp bán dẫn với mục tiêu đào tạo hàng chục nghìn kỹ sư chip bán dẫn vào năm 2030, lấy khoa học, công nghệ và chuyển đổi số làm trụ cột phát triển
Đồng thời, làn sóng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào hạ tầng như trung tâm dữ liệu toàn cầu vượt mức 270 tỷ USD trong năm 2025 cũng mở ra cơ hội lớn để Việt Nam vừa tham gia sản xuất phần cứng vừa trở thành thị trường tiêu thụ dịch vụ AI đầy tiềm năng .
Tuy nhiên, ông Tim Evans cũng lưu ý những rủi ro đi kèm tính chuyên môn hóa sâu, khiến nền kinh tế dễ tổn thương trước các cú sốc bên ngoài như sự suy giảm chi tiêu vốn toàn cầu cho AI, các rào cản kiểm soát xuất khẩu hay biến động giá bán dẫn.
Song, về dài hạn, các hiệp định thương mại như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) và xu hướng đa dạng hóa chuỗi cung ứng vẫn là bệ đỡ củng cố vị thế trung tâm của Việt Nam.
XÂY DỰNG NHÀ XƯỞNG SONG HÀNH CÙNG NĂNG LỰC VẬN HÀNH
Để giữ vững vị thế trung tâm trong chuỗi cung ứng công nghệ và AI toàn cầu, việc thu hút vốn đầu tư và xây dựng nhà xưởng mới chỉ là bước khởi đầu. Khi quy mô đầu tư tăng lên, dòng vốn FDI chất lượng cao đổ vào Việt Nam đòi hỏi các tiêu chuẩn khắt khe hơn về tốc độ triển khai và khả năng đồng bộ hệ thống.
Thực tế cho thấy, việc sở hữu một hạ tầng sản xuất hiện đại sẽ giảm bớt ý nghĩa nếu doanh nghiệp gặp trục trặc trong khâu vận hành, quản trị hoặc không tương thích với quy chuẩn toàn cầu ngay khi bắt đầu hoạt động.
Theo số liệu từ Bộ Tài chính, vốn FDI thực hiện tại Việt Nam năm 2025 đạt 27,62 tỷ USD, mức cao nhất trong vòng 5 năm. Trong đó, gần 83% tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo.
Theo ông Ryohei Oda, Tổng Giám đốc ABeam Consulting Việt Nam, điều này cho thấy Việt Nam đang tiếp tục khẳng định vai trò là một mắt xích quan trọng trong mạng lưới sản xuất toàn cầu. Việt Nam đang dần trở thành một mắt xích quan trọng trong mạng lưới sản xuất khu vực. Tuy nhiên, cùng với cơ hội là yêu cầu ngày càng cao về năng lực đưa nhà máy vào vận hành thực tế.
Ông Oda cho biết trước đây khi mở rộng sản xuất, doanh nghiệp thường tập trung vào các yếu tố như địa điểm xây dựng, tiến độ hoàn thành hay quy mô đầu tư cho dây chuyền thiết bị. Song trong giai đoạn mới của làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng, câu hỏi cốt lõi không còn là xây xong nhà máy, mà là liệu nhà máy đó có thể vận hành ổn định và hiệu quả ngay từ ngày đầu tiên hay không.
Theo ông Oda, việc hoàn thành xây dựng nhà xưởng mới chỉ là bước khởi đầu, chưa đồng nghĩa doanh nghiệp đã sẵn sàng đi vào hoạt động. Để bảo đảm quá trình vận hành hiệu quả, doanh nghiệp cần đáp ứng đồng thời các yêu cầu về tuân thủ pháp lý, quản trị hệ thống, đào tạo nguồn nhân lực và kết nối với mạng lưới vận hành toàn cầu của tập đoàn.
“Do đó để rút ngắn thời gian và giảm thiểu rủi ro, xu hướng hiện nay của nhiều doanh nghiệp là xây dựng nền tảng quản trị song song với quá trình xây dựng cơ sở vật chất”, ông Oda khuyến nghị.

