Gần 320 tỷ USD xuất khẩu 7 tháng đầu năm: Từ vị thế top 15 thương mại lớn nhất thế giới đến sức bật nguồn nhân lực Việt Nam
Sau 7 tháng năm 2026, xuất khẩu Việt Nam đạt gần 320 tỷ USD, tiếp tục khẳng định vị thế trong top 15 nền kinh tế thương mại lớn nhất thế giới. Để giữ vững đà tiến, phát triển con người và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sẽ là nền tảng đưa Việt Nam vươn xa trong kỷ nguyên mới.
- Thương mại Việt Nam - Australia mở rộng dư địa tăng trưởng
- Khuyến khích phát triển hệ thống sàn giao dịch công nghiệp văn hoá thúc đẩy thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ
- "Hàng rào mềm" siết xuất khẩu: Truy xuất nguồn gốc thành lợi thế cạnh tranh
- Xuất khẩu cá ngừ tăng tốc nhưng vẫn đối mặt nhiều sức ép
Những kỷ lục mới của thương mại Việt Nam
Hoạt động ngoại thương tiếp tục tăng tốc mạnh trong tháng 7/2026 khi tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt gần 110 tỷ USD, mức cao nhất từ trước đến nay. Đây cũng là tháng thứ hai liên tiếp quy mô thương mại vượt 100 tỷ USD, sau mức 104,2 tỷ USD của tháng 6. Những con số liên tục thiết lập các cột mốc mới ngày càng cao hơn cho thấy sức sản xuất, khả năng kết nối thị trường và vị thế ngày càng lớn của Việt Nam trong mạng lưới thương mại toàn cầu.
Lũy kế 7 tháng, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt gần 660 tỷ USD, tăng 28,1% so với cùng kỳ, tương ứng tăng gần 145 tỷ USD. Trong đó, xuất khẩu đạt gần 320 tỷ USD, tăng 21,7%; nhập khẩu khoảng 340 tỷ USD, tăng 34,8%.
Nhập khẩu tăng nhanh một phần đến từ nhu cầu nguyên liệu, linh kiện, máy móc và tư liệu phục vụ sản xuất. Nếu nguồn hàng nhập khẩu này nhanh chóng được chuyển hóa thành năng lực sản xuất, sản phẩm và giá trị xuất khẩu trong những tháng tiếp theo, đây có thể là tín hiệu cho thấy doanh nghiệp đang chuẩn bị cho một chu kỳ mở rộng mới. Ngược lại, điều đó cũng đặt ra yêu cầu phải nâng cao hiệu quả sản xuất và khả năng hấp thụ nguồn lực của nền kinh tế.
Động lực lớn nhất của xuất khẩu tiếp tục đến từ công nghệ và công nghiệp chế biến, chế tạo. Sau 7 tháng, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 85,17 tỷ USD, tăng 50,1%; máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng đạt 40,15 tỷ USD, tăng 24,6%; điện thoại và linh kiện đạt 38,5 tỷ USD, tăng 18,6%. Chỉ ba nhóm hàng này đã mang về gần 164 tỷ USD, chiếm hơn một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước.
Bên cạnh đó, những ngành xuất khẩu truyền thống có mức tăng khiêm tốn hơn. Dệt may đạt gần 22,9 tỷ USD, tăng 1,1%; giày dép đạt 11,63 tỷ USD, tăng 0,7%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 10,2 tỷ USD, tăng 5,6%.
Nông nghiệp và thủy sản cũng ghi nhận những điểm sáng đáng chú ý. Riêng tháng 7, xuất khẩu thủy sản và rau quả đều vượt mốc 1 tỷ USD. Lũy kế 7 tháng, thủy sản đạt 6,85 tỷ USD, tăng gần 13%; rau quả gần 4,8 tỷ USD, tăng 23,6%; cà phê đóng góp 5,45 tỷ USD.
Đáng chú ý hơn, xuất khẩu liên tiếp lập kỷ lục trong hai tháng gần đây. Tháng 6, kim ngạch lần đầu vượt 50 tỷ USD, đạt 50,9 tỷ USD; sang tháng 7 tiếp tục tăng lên 53,08 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay. Trong khi đó, tháng xuất khẩu cao nhất của năm 2025 mới ở mức khoảng 44 tỷ USD.
Những con số ấy cho thấy năng lực sản xuất của Việt Nam đang được mở rộng nhanh chóng. Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) ngành sản xuất Việt Nam tháng 7 tăng lên 52,9 điểm, từ 51,8 điểm của tháng trước. Đặc biệt, số đơn hàng xuất khẩu mới tăng với tốc độ nhanh nhất kể từ tháng 7/2024. Khi nhu cầu khách hàng phục hồi và áp lực chi phí đầu vào giảm, doanh nghiệp có thêm điều kiện mở rộng sản xuất, tuyển dụng và đầu tư.
Nếu duy trì được kim ngạch xuất khẩu bình quân khoảng 44-45 tỷ USD mỗi tháng trong 5 tháng cuối năm, xuất khẩu cả năm có khả năng đạt khoảng 540-545 tỷ USD. Đó sẽ tiếp tục là một dấu mốc lớn đối với nền kinh tế Việt Nam.

Trong hòa bình và kiến quốc, từ một nền kinh tế kiệt quệ, đến năm 2024, GDP bình quân đầu người đã vượt 4.600 USD, đưa Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Ảnh từ: Báo Điện tử Chính Phủ
Đứng trước những biến động của thương mại toàn cầu
Phía sau triển vọng tích cực vẫn là một môi trường quốc tế nhiều biến động. Thuế quan, xung đột địa chính trị, cạnh tranh giữa các nền kinh tế lớn, giá năng lượng và những thay đổi trong chuỗi cung ứng có thể nhanh chóng tác động tới những quốc gia có độ mở kinh tế lớn như Việt Nam.
Một trong những biến số đáng chú ý là chính sách thuế của Mỹ theo Mục 301 có hiệu lực từ ngày 24/7 đối với nhiều nền kinh tế, trong đó có Việt Nam, liên quan đến vấn đề hàng hóa được sản xuất toàn bộ hoặc một phần bằng lao động cưỡng bức. Tác động dự kiến sẽ có sự phân hóa giữa các ngành và có thể thể hiện rõ hơn trong những tháng cuối năm.
Các ngành sử dụng nhiều lao động như dệt may, da giày hay thủy sản đứng trước sức ép lớn hơn từ những thay đổi về chính sách thương mại, tiêu chuẩn lao động, truy xuất nguồn gốc và yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Trong khi đó, một số nhóm sản phẩm công nghệ cao tiếp tục có những lợi thế nhất định.
Điều đó đặt ra một vấn đề lớn hơn những biến động ngắn hạn của từng đơn hàng: sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong tương lai sẽ không thể chỉ dựa vào chi phí lao động thấp hay khả năng gia công với quy mô lớn.
Khi thương mại thế giới bước vào giai đoạn cạnh tranh bằng công nghệ, tiêu chuẩn xanh, dữ liệu, sở hữu trí tuệ và chất lượng nhân lực, Việt Nam cũng phải chuyển mình từ một nền kinh tế mạnh về sản xuất sang một nền kinh tế mạnh về năng lực sáng tạo và tạo ra giá trị.

Chuyển giao Khu Công nghệ cao Hòa Lạc về UBND TP Hà Nội quản lý từ ngày 1/8/2023.
Top 15 thương mại lớn nhất thế giới và câu hỏi về chất lượng tăng trưởng
Việt Nam hiện nằm trong nhóm 15 nền kinh tế có quy mô thương mại lớn nhất thế giới. Đó là kết quả của hàng chục năm mở cửa, hội nhập, cải cách thể chế, xây dựng cơ sở hạ tầng, thu hút đầu tư và tham gia ngày càng sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Nhưng vị trí trong bảng xếp hạng thương mại không phải đích đến cuối cùng.
Một nền kinh tế có thể xuất khẩu hàng trăm tỷ USD nhưng điều quan trọng hơn là bao nhiêu giá trị trong những sản phẩm đó được tạo ra bởi doanh nghiệp Việt Nam, công nghệ Việt Nam và người lao động Việt Nam. Một chiếc điện thoại, máy tính hay thiết bị điện tử xuất khẩu từ Việt Nam có giá trị lớn, nhưng nếu phần lớn công nghệ lõi, thiết kế, linh kiện quan trọng, thương hiệu và hệ thống phân phối vẫn nằm ngoài nền kinh tế thì giá trị thực sự Việt Nam giữ lại vẫn còn dư địa để nâng lên.
Bởi vậy, sau câu chuyện tăng kim ngạch phải là câu chuyện tăng giá trị Việt Nam trong mỗi sản phẩm xuất khẩu.
Muốn làm được điều đó, nền kinh tế cần những doanh nghiệp nội địa đủ sức tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng; những ngành công nghiệp hỗ trợ đủ mạnh; hệ thống nghiên cứu và phát triển có khả năng tạo ra công nghệ; những trường đại học gắn chặt hơn với nhu cầu của doanh nghiệp. Và ở trung tâm của toàn bộ quá trình ấy vẫn là con người.
Con người phải trở thành “giá trị Việt Nam” lớn nhất trong mỗi sản phẩm
Nhìn vào gần 320 tỷ USD xuất khẩu sau 7 tháng, phía sau mỗi con số là hàng chục triệu con người đang làm việc trên những cánh đồng, trong nhà máy, khu công nghiệp, phòng nghiên cứu, doanh nghiệp logistics, cảng biển, trung tâm công nghệ và hệ thống thương mại.
Không có nguồn nhân lực, máy móc không thể vận hành. Không có đội ngũ kỹ sư, công nghệ không thể được làm chủ. Không có những người nông dân thay đổi tư duy sản xuất, nông sản khó đáp ứng những tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thế giới. Không có đội ngũ doanh nhân đủ bản lĩnh, hàng Việt khó xây dựng được thương hiệu và chinh phục những thị trường khó tính.
Vì vậy, phát triển thương mại cuối cùng vẫn phải quay trở lại với phát triển con người.
Khi điện tử, máy tính và linh kiện trở thành nhóm hàng xuất khẩu hàng chục tỷ USD, Việt Nam cần nhiều hơn những kỹ sư bán dẫn, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, thiết kế vi mạch và chuyên gia quản trị chuỗi cung ứng. Khi nông sản Việt Nam đi sâu vào những thị trường tiêu chuẩn cao, người nông dân phải từng bước trở thành những chủ thể sản xuất hiện đại, biết ứng dụng khoa học, công nghệ, dữ liệu, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn xanh. Khi doanh nghiệp Việt muốn bước ra thế giới, nguồn nhân lực cũng phải có khả năng ngoại ngữ, quản trị quốc tế, thương mại điện tử, pháp luật thương mại và năng lực thích ứng với những tiêu chuẩn mới.
Đây chính là quá trình chuyển dịch từ lợi thế lao động sang lợi thế nguồn nhân lực, từ sử dụng sức lao động sang phát huy trí tuệ, từ gia công sang làm chủ công nghệ và từ tham gia chuỗi giá trị sang từng bước vươn lên những mắt xích có giá trị cao hơn.
Nếu trước đây một lực lượng lao động đông đảo và chi phí cạnh tranh là lợi thế của Việt Nam thì trong giai đoạn mới, lợi thế lớn nhất phải là một lực lượng lao động có kỹ năng, kỷ luật, tri thức, khả năng sáng tạo và tinh thần làm chủ.

Khát vọng Việt Nam thịnh vượng. Ảnh từ: Việt Nam Hội nhập
Từ “Made in Vietnam” đến giá trị được tạo ra bởi người Việt Nam
Kỷ nguyên mới đặt ra yêu cầu Việt Nam không chỉ sản xuất nhiều hơn mà phải tạo ra giá trị cao hơn; không chỉ xuất khẩu nhiều hơn mà phải giữ lại nhiều giá trị hơn trong nền kinh tế; không chỉ thu hút những nhà máy lớn mà còn phải hình thành được những doanh nghiệp, công nghệ, thương hiệu và đội ngũ nhân lực Việt Nam đủ sức đi cùng các tập đoàn toàn cầu.
Để làm được điều đó, đầu tư cho giáo dục, đào tạo nghề, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo phải được nhìn nhận như đầu tư trực tiếp cho năng lực cạnh tranh quốc gia.
Mỗi người lao động được đào tạo tốt hơn là một phần năng suất của nền kinh tế được nâng lên. Mỗi kỹ sư làm chủ thêm một công nghệ là một bước giảm sự phụ thuộc vào bên ngoài. Mỗi doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu thêm một công đoạn của chuỗi cung ứng là thêm một phần giá trị được giữ lại trong nước. Mỗi sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam chinh phục được thị trường quốc tế là thêm một bước khẳng định năng lực của con người Việt Nam.
Đó cũng là con đường để chuyển những con số thương mại khổng lồ thành sức mạnh nội sinh thực chất.
Gần 320 tỷ USD xuất khẩu sau 7 tháng hay vị trí trong nhóm 15 nền kinh tế thương mại lớn nhất thế giới là những dấu mốc đáng ghi nhận. Nhưng quan trọng hơn những kỷ lục hôm nay là nền móng chúng ta tạo dựng cho ngày mai.
Một quốc gia có thể đi nhanh nhờ vốn, thị trường và những lợi thế nhất thời, nhưng muốn đi xa phải dựa vào chất lượng con người. Một nền kinh tế có thể lớn lên nhờ những nhà máy được xây dựng trên lãnh thổ của mình, nhưng muốn thực sự mạnh phải có những con người đủ khả năng vận hành, sáng tạo, làm chủ và tiến tới tạo ra công nghệ của chính mình.
Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, nguồn lực quý giá nhất của Việt Nam vẫn là hơn 100 triệu con người Việt Nam với trí tuệ, ý chí, sức lao động và khát vọng phát triển đất nước. Khi nguồn lực ấy được đào tạo tốt hơn, được trao cơ hội phát triển, được đặt đúng vị trí và được khơi dậy khát vọng cống hiến, những kỷ lục thương mại hôm nay sẽ không chỉ là những con số trên bảng thống kê mà có thể trở thành nền tảng cho một Việt Nam tự chủ hơn, thịnh vượng hơn và có vị thế cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Top 15 về quy mô thương mại là một dấu mốc. Đích đến lớn hơn là xây dựng một Việt Nam có năng lực làm chủ, có nguồn nhân lực chất lượng cao, có doanh nghiệp đủ mạnh và có những con người đủ trí tuệ, bản lĩnh để đưa đất nước đứng vững trước biến động và tiến xa hơn. Đó cũng chính là sức mạnh để Việt Nam bước tiếp vững chắc trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
